Vẻ đẹp của cơ thể con người cũng có liên quan tới số Phi (con số vàng). Thương của phép chia chiều cao từ đầu tới chân với khoảng cách từ rốn tới chân gần bằng 1.618, thể hiện sự hài hoà cân đối của cơ thể. Chúng ta cũng có thể tìm ra kết quả tương tự trong tỷ lệ của chiều dài cái đầu với khoảng cách từ mắt tới cằm; hay tỷ lệ của khoảng cách từ mũi tới cằm trên khoảng cách từ môi tới cằm. Những tỷ lệ của gương mặt càng tiến gần tới tỷ lệ này thì gương mặt càng hài hoà cân đối. Mặc dù có một vài ý kiến trái ngược nhưng rõ ràng là sở thích của chúng ta dường như đã được định sẵn.

Ngoài ra còn một số phương pháp xác định tỷ lệ chuẩn cho khuôn mặt. Theo chiều rộng, mặt có thể được chia thành 5 phần bằng nhau bởi các đường thẳng đứng song song đều nhau. Đó là các đường thẳng đi qua phía ngoài tai, đuôi mắt, đầu mắt của hai bên mặt và vuông góc với trục giữa của mặt. Một cách phân chia nữa là: nếu theo chiều đứng, dựa vào các điểm như điểm chân tóc, điểm giao nhau giữa hai cung mày, điểm dưới mũi và cằm, khuôn mặt được chia thành 3 tầng, một khuôn mặt hài hòa thì 3 tầng này phải bằng nhau.

Tuy nhiên, sau này có quan điểm cho rằng, chân tóc không xác định được vì có người hói, chân mày cũng không xác định được vì phụ nữ có thể phun xăm thẩm mỹ. Do đó, các điểm mốc đánh giá phải là các điểm mốc cố định như điểm gốc mũi, điểm nền mũi và cằm, theo cách phân chia này thì chiều cao khuôn mặt tính từ điểm gốc mũi đến điểm nền mũi chiếm 43% chiều cao tính từ điểm gốc mũi đến điểm cằm.

Trong đó, mỗi khuôn mặt đều có những tỷ lệ nhất định cho các bộ phận cấu thành nên nó: Trán đẹp thì chiều cao phải chiếm 1/3 chiều toàn bộ khuôn mặt, rộng gấp đôi chiều cao; Độ rộng mắt phải bằng 1/5 tổng chiều rộng khuôn mặt; Má phải đầy đặn, hình oval, gò má không quá cao và đầy; miệng có độ rộng không quá 50,9mm; Chiều rộng của tai xấp xỉ bằng 1/2 chiều dài tai, chiều dài tai xấp xỉ bằng chiều dài mũi…

Để đánh giá về cân nặng sao cho phù hợp với chiều cao người ta dùng chỉ số Quetelét.

Quetelet= cân nặng (gr)/chiều cao (cm)

Chỉ số này cho thấy mỗi 1cm chiều cao bạn đã nặng bao nhiêu gram. Chỉ số càng đạt từ 290gr/1cm đến 320gr/cm thì càng chuẩn.

Để đánh giá vòng 1 (ngực) đẹp hay xấu, người ta dùng ít nhất hai vòng đo: Vn1 đo qua đỉnh của bầu ngực và Vn2 đo qua chân ngực. Sau đó tính hiệu số của Vn1 – Vn2. Nếu hiệu số của 2 vòng đó đạt:

7-10,9: là có ngực

11-14,9: là ngực đẹp

15-18: là rất đẹp

Với vòng eo, thường gọi là vòng 2: Đương nhiên vòng eo càng nhỏ càng đẹp. Nhưng để đánh giá mức độ nhỏ của eo người ta phải so sánh với vòng mông (vòng 3). Hiệu số vòng 3 – vòng 2 đạt được 30cm là lý tưởng.

Cuối cùng là vòng 3: Người ta không chỉ dùng hiệu số giữa vòng 3 và vòng 2 để đánh giá như trên, mà còn phải tính đến hiệu số giữa vòng 3 và vòng 1. Nếu hiệu số này bằng 0 thì mới là chuẩn nhất.

Để so sánh mức độ dài của chân người ta dùng chỉ số Skélie.

Skélie= (chiều cao đứng (cm) – chiều cao ngồi (cm)x100)/ chiều cao ngồi (cm)

Chỉ số này phải đạt từ 90 trở lên mới là đẹp

Tỷ số vòng eo trên vòng mông (tiếng Anh: waist-hip ratio – WHR), hay tỷ số eo trên mông, là giá trị của phép chia giữa số đo chu vi vòng eo và số đo chu vi vòng mông (tại vị trí lớn nhất có thể của vòng mông).

Để đo chính xác các thông số, bụng phải để ở trạng thái tự nhiên (không phình hoặc thóp bụng) và tốt nhất là đo trực tiếp trên da (không đo qua quần áo).

Thông thường WHR mang nghĩa như trên, ngoài ra để bổ sung còn có một biến thể của nó đó là WHR bề mặt (frontal WHR). Sự khác nhau nằm ở chỗ nó là tỷ số của chiều dài bề ngang eo trên chiều dài bề ngang hông chứ không phải chu vi, do vậy WHR bề mặt đo được thông qua ảnh chụp còn WHR thì không đo được qua ảnh chụp.

Công thức: WHR= Ce/Cm

trong đó:

Ce: chu vi eo

Cm: chu vi mông

Nhiều nghiên cứu cho thấy mối quan hệ khăng khít giữa tỷ số vòng eo trên vòng mông và sức khỏe của một người. WHR vào khoảng 0,7 với phái nữ và 0,9 với phái nam báo hiệu sức khỏe tốt và khả năng sinh sản cao. Ở phụ nữ sở hữu chỉ số chuẩn, mức estrogen (một loại hooc môn nữ) có trạng thái tốt nhất, họ ít mắc các bệnh nguy hiểm như bệnh đái đường, rối loạn tim mạch và ung thư buồng trứng[3], còn ở nam giới có WHR vào khoảng 0,9 thường ít mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt và ung thư tinh hoàn[4].

Ngoài ra tỷ số vòng eo trên vòng mông là một phương pháp được sử dụng để xác định sự phân phối mỡ trên cơ thể của một người[5], bổ sung sự thiếu hụt cho khái niệm chỉ số khối cơ thể (BMI), bởi vì BMI chỉ phản ánh mối quan hệ giữa chiều cao và cân nặng. Nếu WHR nhỏ hơn 1, cơ thể được xếp vào dạng trái lê (pear-shaped body), tức là vòng eo nhỏ hơn vòng mông, mỡ chủ yếu tập trung ở mông và các vùng xung quanh; ngược lại, nếu WHR lớn hơn 1, nó thuộc dạng trái táo (apple-shaped body), nghĩa là vòng mông nhỏ hơn vòng eo, mỡ chủ yếu tập trung ở vùng bụng[6]. Ở dạng trái táo cơ thể gặp nhiều nguy cơ về sức khỏe hơn[7][8][9].

Bảng nguy cơ căn cứ theo tỷ số vòng eo trên vòng mông:

Nam Nữ Mức nguy hiểm đến sức khỏe
0,9 0,7 Không nguy hiểm (sức khỏe tốt)
0,9 – 0,95 0,7 – 0,8 Ít
0,96 – 1 0,81 – 0,85 Trung bình
Trên 1 Trên 0,85 Cao (Rất nguy hiểm)